Hãy giữ một Vịnh Hạ Long bồng lai tiên cảnh như vốn có

0

Vịnh Hạ Long ngoài giá trị về cảnh quan tự nhiên, giá trị sinh thái địa chất, địa mạo còn ẩn chứa giá trị văn hoá phong phú mà việc khai thác chúng ra sao để vừa bảo tồn vừa gìn giữ, phát huy tốt những giá trị ấy trong hôm nay là câu chuyện vẫn cần thêm nhiều lời bàn cho thật thấu đáo.

Góp thêm vào câu chuyện ấy một lời bàn có lẽ là chủ ý xuyên suốt của nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Tống Khắc Hài khi trò chuyện cùng chúng tôi…

– Được biết, ông là một trong những người đầu tiên đã tìm ra các hình thức hò hát độc đáo của ngư dân các làng chài trên Vịnh Hạ Long. Vậy không biết ông có tìm hiểu về nguồn gốc người cổ gắn với các làng chài cổ nơi đây, nay vẫn còn hậu duệ ở các làng chài trên Vịnh Hạ Long?

+ Có nhiều giả thuyết xác định nguồn gốc cư dân cổ trên Vịnh Hạ Long, nhưng được các nhà khoa học công nhận nhiều hơn cả thiên về hướng là có 2 dòng, một từ phương Bắc xuống là người Mông-gô-lô-ít da trắng, mũi tẹt và một đại chủng là từ phương Nam lên là người Mê-lan-nê-diêng, Anh-đô-nê-điêng và cả người Ôt-xờ-ta-nê-diêng. Hai chủng này cứ men theo bờ biển di cư kiếm ăn rồi gặp nhau ở vùng sống rất lý tưởng về thức ăn, lại lặng sóng, gió là vùng Vịnh Hạ Long. Từ dấu vết của các cuộc khai quật, các nhà khảo cổ cho rằng, con người liên tục sống ở đây từ thời kỳ đồ đá giữa đến thời kỳ kim khí, tiếp nối với thời văn hoá Đông Sơn và thời đại các vua Hùng. Gần đây, trong lời đề tựa công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Hà Hữu Nga, Giáo sư Hà Văn Tấn từng khẳng định những lý giải tại đây là hợp lý. Theo đó, di vật khảo cổ ở vùng Vịnh Hạ Long có 3 thời kỳ: Văn hoá Soi Nhụ, văn hoá Cái Bèo và cuối cùng là văn hoá Hạ Long liên tục có con người cư ngụ tại đây. Các di chỉ dày đặc, khai quật nhiều hang đều cho thấy những dấu vết cư trú của người cổ.

bao ton vinh ha long Hãy giữ một Vịnh Hạ Long bồng lai tiên cảnh như vốn có

Hiện vật là vậy, còn về ghi chép thì đến thời cận đại mới có chỉ còn những tờ khai, hương ước của các làng chài cổ, gồm 3 làng là Giang Võng, nằm ở phía Đông, tít trong tận cùng của sông Diễn Vọng, ra các bờ bãi Hà Lầm, Cái Đá, Vựng Đâng; làng Trúc Võng ở bên này, từ bến Trới, bến Đáy vòng ra Cái Lân, Cái Dăm, Bãi Cháy, Tuần Châu; rồi làng My Sơn, giờ là xã Tiến Tới, Hải Tân của Hải Hà. Ngoài ra, còn có những vạn chài nho nhỏ khác nữa sống tản mạn ở các cửa sông, ven biển như: Sông  Chanh (xã Tiền An, TX Quảng Yên), làng chài Thuỷ Cơ (Tiên Yên), vạn chài trên sông Vàng Chua, sông Cầm, sông Đá Bạc (Đông Triều)… Nay nhiều nơi vạn chài đã lên bờ, đã thành nông dân do quá trình đắp đê, thuỷ triều không còn vào sâu trong đất liền như trước kia nữa.

Nhưng tiêu biểu nhất là ngư dân ở Hạ Long, Vân Đồn… nơi có trên 2.000 đảo đá, là nơi trú ngụ lý tưởng cho người cổ thoát khỏi nỗi lo sợ thú dữ ăn thịt, lại có các hang hườm tránh bão gió, nguồn thuỷ sản làm thức ăn từ biển lại dồi dào… Hương ước của các làng cổ nói trên lập vào đầu thế kỷ 20, do người Pháp tiến hành cải cách hương chính nhằm quản lý lại làng xã; còn những hương ước cổ trước đó hiện vẫn chưa tìm thấy. Sắc phong cho các ngôi đình gắn với các làng cổ có sớm hơn, chủ yếu vào thời Nguyễn, khoảng giữa thế kỷ 19.

– Vậy làng chài cổ trên Vịnh Hạ Long có gì khác so với vạn chài ở những vùng biển khác ở nước ta không, thưa ông?

+ Vạn chài ở Hạ Long có sự khác biệt hẳn. Chỉ có vùng Phá Tam Giang, dân chài hầu như cũng chỉ sống trên thuyền, nhưng dù gì vẫn chỉ là “phá”, tuy rộng cũng có giới hạn nên vẫn quanh quẩn được. Còn dọc bờ biển miền Trung tới Vũng Tàu, Hà Tiên hầu như ngư dân không sống trên thuyền mà đều có những làng chài ở trên bờ. Các làng biển, đàn ông đi biển là chính, có lúc sáng đi, chiều về, có lúc đi dài ngày tới hàng tháng… Còn ở Vịnh Hạ Long, ngư dân cứ nối đời sống lênh đênh trên vịnh, trên những con thuyền nhỏ, đánh bắt tôm, cá trong lộng bằng những phương thức đơn giản. Tất cả mọi thành viên đều tham gia sản xuất, bé thì gỡ cá, lớn lên một chút thì kéo lưới, thả câu… Họ phải tản ra để kiếm ăn, phần lớn ở trong lộng, số khác có thể ra tận Hà Cối, Móng Cái, về tận Cát Bà… Từ cuộc sống lênh đênh ấy đã hình thành nên văn hoá của dân chài. Họ không biết chữ, lớ ngớ chuyện trên bờ, bị gọi là dân “chã”. Lạc lõng với cuộc sống trên bờ nên họ cũng ngại tiếp xúc. Họ không học hành nên các phong tục tập quán, tín ngưỡng hầu như không bị ảnh hưởng của các loại tôn giáo cũng như lễ giáo. Họ thờ thần sông, thần biển, thờ mẫu Thoải, thờ các vị tướng có công với người dân biển. Cũng vì nhà là thuyền, mỗi nhà một thuyền lại sống lênh đênh nên họ phải giao lưu bằng hát hò như một phương thức trò chuyện, giao lưu, kết bạn, nên vợ, nên chồng…

– Quảng Ninh đã có lộ trình đến hết 2014 sẽ đưa toàn bộ ngư dân sinh sống trên Vịnh Hạ Long lên bờ. Theo ông, việc làm này liệu có đánh mất giá trị văn hoá của Vịnh Hạ Long khi người dân sinh sống trên Vịnh không còn?

+ Ngư dân trên Vịnh Hạ Long có bề dày văn hoá, có những phong tục tập quán độc đáo, ai cũng thấy sinh động khi con người của quá khứ và hiện tại nối tiếp nhau sinh sống trên vịnh. Nhưng hiện nay, phương thức sinh sống của ngư dân trên vịnh đã khác xa ngư dân các làng chài cổ; họ nuôi cá trên các lồng bè là chính, những người còn giữ nghề quăng chài kéo lưới là những người nghèo khổ nhất vì tài nguyên biển đã cạn kiệt. Vì vậy mà sinh ra đánh mìn, xiếc điện, cân đong lừa gạt… cứ thế dần dần sẽ mất hết bản chất văn hoá tốt đẹp của dân chài. Còn về cái hay, cái đẹp, chúng ta từng mở lớp dạy các điệu hát giao duyên cho lớp trẻ, đó chỉ là một cách sân khấu hoá mà quên đi mất cái gốc của nó đã thay đổi. Thiết nghĩ, ta chỉ nên nương theo cái cũ, sử dụng một phần để phát huy nó trong đời sống hôm nay. Chứ hát cũ giờ lớp trẻ không muốn nghe, hay như hát đúm cái gốc là thanh niên nam nữ hát với nhau chứ không phải các ông già, bà cả hát như bây giờ… Vậy nên, các giá trị văn hoá ấy chỉ nghiên cứu trong bảo tồn, bảo tàng, trưng bày để khách du lịch tiếp cận nhanh thì được, chứ đưa ra diễn mà bảo phục hồi là không đúng.

Tôi ủng hộ chủ trương đưa ngư dân lên bờ và có phương thức hợp lý để phục hồi các loài thuỷ sản. Rõ ràng, đang có sự ngộ nhận về giá trị của làng chài. Người ở xa đến chỉ nghe về thiên nhiên, đến thấy giữa biển khơi mà có làng thì ồ lên thích thú. Nhưng đó chỉ là cái vỏ, một sự ngộ nhận về văn hoá làng chài mà không thấy mặt trái của nó, họ đang xung đột dữ dội với Vịnh Hạ Long. Vịnh Hạ Long đã được khẳng định giá trị về mặt tự nhiên, vì vậy phải trả lại cảnh quan thiên nhiên trong lành của Vịnh Hạ Long. Vùng nuôi trồng thuỷ sản của ngư dân phải quy vào một vùng nhất định chứ không thể ở chỗ đẹp nhất của Hạ Long được. Đó là chưa kể ngư dân cũng pha tạp, đến mấy chục phần trăm là người ở nơi khác đến đây kinh doanh.

Thực sự, tôi từng phát hiện, nghiên cứu về ca dao, dân ca của ngư dân trên Vịnh Hạ Long, cũng từng rất tiếc khi di dời ngư dân lên bờ trong cao trào hợp tác hóa năm 1959-1960, nhưng từ thực tế hiện nay phải thừa nhận việc này là cần thiết. Sau này, nếu có tái hiện lại những làng chài cổ cũng chủ yếu là biểu diễn, giới thiệu những sinh hoạt văn hoá cổ cho khách du lịch thôi, chứ không thể gọi là phục dựng nguyên gốc văn hoá cổ được.

– Vậy theo ông thì nên làm gì để có thể bảo tồn các giá trị văn hoá độc đáo của ngư dân trên Vịnh Hạ Long?

+ Văn hoá dân chài là vấn đề rất lớn. Tôi nghĩ, trước hết phải tạo ra cuộc sống tốt hơn cho họ khi lên bờ. Các giá trị văn hoá của dân chài cần nghiên cứu kỹ lưỡng, cái gì hay, đẹp thì trưng bày, biểu diễn. Nên có một trung tâm thông tin, nghiên cứu và bảo tồn để du khách có thể tìm hiểu sâu về các giá trị của Vịnh Hạ Long; đồng thời tiếp tục tổ chức các nghiên cứu sâu về Vịnh Hạ Long, như giá trị lịch sử, quốc phòng rồi các hiện vật dưới đáy vịnh. Việc tổ chức các tour du lịch cần hợp lý, Vịnh Hạ Long giờ quá tải về lượng khách ở vùng lõi di sản, phải kéo giãn ra bằng các tour du lịch ở các tuyến đảo ngoài. Còn lại, xin hãy giữ một Vịnh Hạ Long bồng lai tiên cảnh, đừng xây dựng công trình mới, đừng họp chợ… trên Vịnh Hạ Long.

Chia sẻ bài viết:

Bình luận bài viết